Tin Tập đoàn

Từ chiếc xe đạp đến những trang sử đầu tiên của ngành dầu khí

Hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống PETROVIETNAM (27/11/1961 - 27/11/2026), ký ức của ông Phan Huy Quynh, người gắn bó với ngành từ năm 1966, gợi lại một thời kỳ mà công việc địa chất gắn liền với những chuyến đi thực địa bằng xe đạp, những trang sổ ghi chép và bản đồ vẽ bằng tay. Từ những công việc tưởng như giản dị ấy, lớp cán bộ đầu tiên từng bước trưởng thành, góp phần đặt nền móng tri thức cho ngành dầu khí Việt Nam.

Gặp ông Phan Huy Quynh, nguyên cán bộ Viện Dầu khí Việt Nam, tôi có cảm giác như đang ngồi trước một người lưu giữ một phần ký ức rất riêng về những năm đầu hình thành ngành dầu khí Việt Nam. Ông cho biết, vào năm 1966, khi vừa tốt nghiệp Khoa Địa chất, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, ông vào công tác trong ngành dầu khí. Khi ấy, ngành dầu khí Việt Nam đang ở những bước đi đầu tiên. Những người làm địa chất phải bắt đầu từ những việc căn bản nhất như đi thực địa, quan sát đất đá, lấy mẫu, ghi chép, vẽ bản đồ và tìm cách đọc những dấu hiệu nằm sâu trong lòng đất.

Ông kể chuyện chậm rãi. Có những đoạn ông dừng lại khá lâu, như thể đang lần giở từng trang trong một cuốn sổ cũ. Và càng nghe, tôi càng nhận ra rằng lịch sử của một ngành công nghiệp đã được tạo nên từ những công việc rất lặng lẽ như thế.

Từ chiếc xe đạp đến những trang sử đầu tiên của ngành dầu khí
Ông Phan Huy Quynh, nguyên cán bộ Viện Dầu khí Việt Nam, chia sẻ về những ghi chép trong quá trình tìm kiếm, thăm dò dầu khí thời kỳ đầu (Ảnh: Đức Anh)

Những chuyến đi bắt đầu từ chiếc xe đạp

Năm 1966, ông Quynh được Tổng cục Địa chất phân công về Đoàn 36. Chiến tranh khiến tổ chức phải sơ tán. Từ Bắc Ninh, đơn vị chuyển về Hưng Yên. Phòng thí nghiệm đặt tại thôn Bình Kiều, xã Ông Đình, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, còn các bộ phận khác phân tán ở những địa điểm khác.

Ông Quynh lý giải, việc Đoàn 36 chuyển về Hưng Yên khi đó trước hết là do yêu cầu sơ tán trong chiến tranh, chứ không phải vì đã xác định chắc chắn có dầu khí tại đây. “Lúc ấy chiến tranh, đơn vị phải sơ tán từ Bắc Ninh về Hưng Yên. Việc đóng quân ở Hưng Yên là do yêu cầu tổ chức và bảo đảm an toàn. Còn về mặt địa chất, đồng bằng sông Hồng, trong đó có Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định..., vốn được xem là khu vực có triển vọng, đã được tiến hành khảo sát, nghiên cứu”, ông nói.

Những ngày đầu ấy, thiết bị còn đơn sơ. Công việc đo đạc, khảo sát phần lớn làm thủ công. Bản đồ, mặt cắt, tài liệu được thể hiện bằng tay, nhiều khi chỉ với bút chì. Đi thực địa thì phương tiện quen thuộc là chiếc xe đạp.

Có những chuyến đi từ Hưng Yên sang các địa phương khác, có những cung đường lên Lạng Sơn, Tây Bắc, Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái. Hàng chục, thậm chí hàng trăm kilômét không phải là chuyện hiếm.

Ông Quynh nhớ lại: “Ngày ấy đi thực địa chủ yếu bằng xe đạp. Có những chuyến đi rất xa, đường sá thì khó khăn, nhưng anh em cứ đi. Đến đâu thì quan sát đến đó, gặp cái gì thì ghi chép lại cái đó. Không có máy móc hiện đại để mang theo và xử lý ngay như bây giờ, nên mắt phải nhìn thật kỹ, tay phải ghi thật đầy đủ”.

Theo ông, với người làm địa chất thời ấy, ghi chép gần như là một phần không thể tách rời trong công việc. Một chuyến đi thực địa nếu chỉ đi để “xem” mà không ghi lại được những đặc điểm quan trọng thì coi như chưa hoàn thành nhiệm vụ.

“Làm công tác địa chất là phải ghi. Đá ở đâu, tầng nào, đặc điểm ra sao, quan hệ giữa các lớp đất đá thế nào, mẫu lấy ở vị trí nào... đều phải ghi lại. Có khi chỉ là một chi tiết rất nhỏ, lúc ở ngoài thực địa chưa thấy quan trọng, nhưng sau này về phòng nghiên cứu, đối chiếu với các tài liệu khác, nó lại có ý nghĩa”, ông nói.

Đó là cách những dữ liệu đầu tiên được tích lũy. Không có định vị trên điện thoại, không có máy tính bảng để mở bản đồ, càng không có những phần mềm xử lý dữ liệu địa chất với tốc độ tính toán mà người làm nghề hiện nay đã quen thuộc.

Từ chiếc xe đạp đến những trang sử đầu tiên của ngành dầu khí
Ông Phan Huy Quynh giới thiệu về cột địa tầng tổng hợp miền võng Hà Nội được vẽ vào những năm 1970 (Ảnh: Đức Anh)

Chỉ có bản đồ giấy, sổ ghi chép, bút chì, mẫu đá và trí nhớ của người đi thực địa. Theo ông, thiết bị đơn sơ không có nghĩa công việc đơn giản. Ngược lại, chính vì thiếu phương tiện nên người làm nghề càng phải cẩn thận. Ngày ấy cái gì cũng phải tự làm. Bản đồ thì vẽ bằng tay, mặt cắt cũng vẽ bằng tay. Có những chỗ phải sửa đi sửa lại, phải quan sát kỹ rồi mới đặt bút. Chỉ cần sai một chi tiết, khi tổng hợp tài liệu có thể ảnh hưởng đến những nhận định sau đó.

Nghe ông kể, chiếc bút chì không còn là một chi tiết mang tính hoài niệm. Đó là một công cụ lao động thực sự, gắn với quá trình hình thành tư duy nghề nghiệp của một thế hệ cán bộ địa chất.

Những nét bút chì dựng nên cột địa tầng

Nếu chiếc xe đạp đưa những người làm địa chất đến với thực địa, thì những mẫu vật và trang giấy lại đưa họ trở về với phòng nghiên cứu.

Ông Quynh làm việc trong phòng thí nghiệm, gắn bó với công tác nghiên cứu địa chất, cổ sinh và các tài liệu phục vụ đánh giá địa chất dầu khí. Những mẫu lấy ngoài thực địa, những tài liệu từ các giếng khoan trở thành cơ sở để các nhà địa chất kết nối những mảnh ghép rời rạc thành một bức tranh lớn hơn về lòng đất.

Ông kể về những cột địa tầng được dựng vào những năm 1970. Khi ấy, giấy can, giấy bóng mờ được sử dụng để lập và so sánh các cột địa tầng. Có những cột địa tầng tổng hợp được xây dựng từ rất nhiều giếng khoan, từ các bản mô tả, mẫu vật và những kết quả khảo sát khác nhau.

Không có thao tác “kéo thả” hay “copy”. Mọi thứ đều phải làm bằng tay. Ông giải thích, việc dựng một cột địa tầng không đơn thuần là vẽ lại những gì nhìn thấy trong từng giếng khoan. Quan trọng hơn là phải đối chiếu các tài liệu để nhận ra sự tương đồng, khác biệt và mối liên hệ giữa các tầng địa chất.

“Mỗi giếng khoan gắn với một tập tài liệu. Muốn dựng được cột địa tầng thì phải đem các tài liệu ấy ra đối chiếu, xem tầng nào tương ứng với tầng nào, đặc điểm địa chất thay đổi ra sao. Ngày ấy không có máy tính, tất cả phải làm trên giấy can, chồng lên nhau rồi so từng chi tiết”, ông nói.

Công việc ấy đòi hỏi sự kiên nhẫn rất lớn. Nhưng theo ông, điều quan trọng là người làm nghề phải hiểu được ý nghĩa của những dữ liệu mình đang xử lý. Máy móc có thể hỗ trợ rất nhiều, nhưng cuối cùng người làm địa chất vẫn phải hiểu bản chất vấn đề. Một mẫu đá không thể tự nói. Một kết quả phân tích cũng không thể tự trở thành kết luận. Tất cả phải được đặt trong một tổng thể, phải so sánh với những tài liệu khác, rồi mới đưa ra được nhận định.

Ông Quynh không nói về điều đó như một câu chuyện hoài niệm. Với ông, giá trị của tài liệu trước hết nằm ở chất lượng quan sát và tư duy của người tạo ra nó.

“Ngày trước làm thủ công, nhưng không có nghĩa là làm qua loa. Chính vì ít phương tiện nên càng phải làm chắc và chi tiết. Người làm địa chất phải biết mình đang tìm cái gì, vì sao phải lấy mẫu ở chỗ này, vì sao phải ghi đặc điểm kia. Khi tài liệu được làm cẩn thận thì sau nhiều năm vẫn có thể lấy ra để đối chiếu với những kết quả mới”, ông chia sẻ.

Trong câu chuyện của ông, có thể thấy một điều khá rõ: khoa học địa chất không chỉ là câu chuyện của máy móc. Đó trước hết là khả năng quan sát, nhận biết và đọc những dấu hiệu của tự nhiên.

Từ những phòng thí nghiệm sơ khai, những chuyến đi bằng xe đạp, những tờ bản đồ vẽ bằng bút chì, những mẫu khoan và những cột địa tầng dựng trên giấy can, một lớp cán bộ dầu khí đã từng bước tích lũy tri thức.

Những trang giấy đó hôm nay có thể đã cũ. Nhưng những gì được ghi lại trên đó vẫn còn nguyên giá trị. Đó là dữ liệu, là kinh nghiệm và là cách một thế hệ đã học để đọc những dấu hiệu trong lòng đất.

Nhìn lại hành trình 65 năm truyền thống của PETROVIETNAM, câu chuyện của ông Quynh như gợi nhắc rằng, phía sau mỗi mỏ dầu, mỗi giếng khoan hay mỗi công trình lớn luôn có một lớp người âm thầm đặt nền móng từ rất sớm.

Có khi, hành trình ấy bắt đầu chỉ bằng một chiếc xe đạp và những nét bút chì.

Theo tin từ Petrovietnam

Bài viết liên quan