Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị triển khai hai Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2, vấn đề an toàn môi trường được xác định là điều kiện tiên quyết. Tại tọa đàm “Tác động môi trường của Nhà máy Điện hạt nhân ven biển Ninh Thuận: Thực tế và giải pháp”, các nhà quản lý, chuyên gia trong và ngoài nước đã phân tích sâu các tác động tiềm ẩn, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt về môi trường, an toàn bức xạ và trách nhiệm xã hội nhằm bảo đảm dự án được triển khai bền vững, minh bạch và nhận được sự đồng thuận của cộng đồng.
Ngày 21/1, tại trường Đại học Thái Bình Dương (Khánh Hoà), Công ty Cổ phần Xuất bản Khoa học và Giáo dục Thời Đại (TIMES) phối hợp cùng Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC), Mạng lưới Chuyên gia Năng lượng Hạt nhân Việt Nam ở nước ngoài (VietNuc), Trường Đại học Thái Bình Dương và Nhà xuất bản Khoa học – Công nghệ – Truyền thông tổ chức tọa đàm “Tác động môi trường của Nhà máy điện hạt nhân ven biển Ninh Thuận: Thực tế và giải pháp”.
Tham dự toạ đàm, về phía tỉnh Khánh Hoà, có đại diện Sở Khoa học – Công nghệ, Ban Tuyên Giáo và Dân vận, Sở Công Thương, Sở Xây dựng và Sở Tài chính. Về phía Petrovietnam, có ông Nguyễn Thanh Bình – Phó Trưởng ban Ban Chuẩn bị đầu tư dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2; đại diện PTSC, Trường Cao đẳng Dầu khí, cùng các ban chức năng.
Các diễn giả tại toạ đàm bao gồm: T.S Phạm Tuấn Hiệp – chuyên gia Tập đoàn Điện lực Pháp (EDF), Tổng Thư ký VietNuc, dịch giả cuốn sách Năng lượng hạt nhân - Vì sao?; TS. Lê Anh Vân – Phó Hiệu trưởng
Đảm bảo an toàn môi trường đối với 2 nhà máy điện hạt nhân
Tháng 12/2025, Quyết định số 2634/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn ký phê duyệt Danh mục các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng. Trong số 32 dự án nguồn điện, có 2 nhà máy điện hạt nhân được phê duyệt triển khai là Nhà máy điện Hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Hai nhà máy điện hạt nhân này được hình thành với mục tiêu công suất 2.000-3.200MW, dự kiến sẽ vận hành giai đoạn 2030-2035. Với Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, dự án có quy mô 544ha đặt tại xã Phước Dinh (Khánh Hoà) và Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 được đặt tại xã Vĩnh Hải (Khánh Hoà) với quy mô 454ha.
Trong bối cảnh Việt Nam cần vượt qua các thách thức để đảm bảo an ninh năng lượng dài hạn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, gắn với các cam kết giảm phát thải khí nhà kính, bên cạnh các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng truyền thống, việc hình thành các dự án điện hạt nhân được xem là một giải pháp góp phần tạo nguồn năng lượng có công suất lớn, ổn định và giảm phát thải ra môi trường. Song song đó, việc triển khai 2 nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc đảm bảo các tác động liên quan đến môi trường, an toàn và các rủi ro ảnh hưởng đến người dân.
Đại diện Petrovietnam, ông Nguyễn Thanh Bình – Phó Trưởng ban Ban Chuẩn bị đầu tư dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 chia sẻ: Các vấn đề liên quan đến môi trường, an toàn và sinh kế luôn là những vấn đề quan tâm thiết thực và chính đáng với một loại hình năng lượng đặc thù như là điện hạt nhân. Do đó, những mối quan tâm đó ngày càng được tiếp cận một cái khoa học, minh bạch và có trách nhiệm. Tọa đàm được tổ chức với tinh thần công khai, cầu thị và đối thoại nhằm cung cấp các thông tin chính xác về tác động môi trường của nhà máy điện hạt nhân ven biển, các tiêu chuẩn an toàn quốc tế, cũng như về khung pháp lý và trách nhiệm quản lý của các cơ quan liên quan tại Việt Nam. Đây cũng là dịp để các chuyên gia chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời, tiếp nhận ý kiến từ các cơ quan quản lý cũng như là cộng đồng địa phương. Petrovietnam tin rằng, sự đồng hành, thấu hiểu và tin cậy của cộng đồng sẽ tạo điều kiện tiên quyết để các dự án năng lượng lớn được nghiên cứu, chuẩn bị và triển khai một cách bền vững, an toàn và vì lợi ích chung.
Tại toạ đàm, TS Phạm Tuấn Hiệp – chuyên gia Tập đoàn Điện lực Pháp (EDF), Tổng Thư ký VietNuc nhìn nhận, việc hình thành Nhà máy điện hạt nhân cần đảm bảo an toàn môi trường được kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt trong việc bảo vệ hệ sinh thái biển là ưu tiên hàng đầu. Trong đó, đối với việc vận hành nhà máy điện hạt nhân, cần kiểm soát nguồn nước thải ra biển với nhiệt độ tối đa được giám sát; chênh lệch nhiệt độ vào/ra được kiểm soát; đo lường định kỳ được đảm bảo an toàn; tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế. Ông Hiệp cũng lấy ví dụ về Nhà máy điện hạt nhân Gravelines (Pháp) là nhà máy lớn thứ 2 ở Châu Âu với 6 tổ máy đang hoạt động, công suất toàn bộ là 5.500 MW. Tuy với công suất lớn, nhưng nhà máy luôn được đảm bảo các công tác an toàn và rất hạn chế các tác động đối với môi trường từ nước làm mát.
Bên cạnh đó, các nhà máy điện hạt nhân cũng cần kiểm soát và đảm bảo về an toàn bức xạ. Tại các nhà máy điện hạt nhân thường được trang bị các hệ thống đo lường bức xạ và định kỳ báo cáo các chỉ số lên hệ thống, trang thông tin của nhà máy. Các chỉ số này được đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn, quy định về an toàn bức xạ để tất cả mọi người đều có thể theo dõi, qua đó, công khai thông tin và tạo sự tin tưởng cho người dân. Cùng với đó, kiểm soát và can thiệp để xử lý kịp thời các mức bức xạ khi vượt mức giới hạn.
Trong đảm bảo an toàn hạt nhân, cần tuân thủ theo nguyên tắc “Phòng thủ chiều sâu” với việc đảm bảo phòng ngừa sự cố; phát hiện và khắc phục sự cố; kiểm soát tai nạn; quản lý tai nạn nghiêm trọng; quản lý khủng hoảng và giảm thiểu hậu quả. Cùng với đó, TS Hiệp cũng chỉ ra lượng rác thải từ các nhà máy điện hạt nhân tại Pháp tạo ra khoảng 50.000m3 trong 60 năm, ngược lại, nhà máy nhiệt điện than trong 1 năm đã tạo ra 8 triệu m3 tro, xỉ. Do đó, nhà máy điện hạt nhân bên cạnh việc tạo ra nguồn năng lượng ổn định cũng góp phần giảm thiểu rác thải, bảo vệ môi trường.
Lập “lá chắn môi trường”
Tại toạ đàm, ông Trần Sĩ Chương – chuyên gia Kinh tế, cố vấn phát triển doanh nghiệp, cựu kỹ sư điện tại Hoa Kỳ cho rằng, an toàn tuy là vấn đề cốt lõi trong việc hình thành các Nhà máy điện hạt nhân. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận về vấn đề cốt lõi hơn nữa là vấn đề tâm lý xã hội. Mặc dù các nhà máy điện hạt nhân ngày nay có công nghệ tiên tiến và các biện pháp an toàn rất chặt chẽ, nhưng vẫn tồn tại những rủi ro nhất định, đặc biệt là khi xảy ra sự cố. ông Chương nhấn mạnh rằng, nguy cơ xảy ra sự cố thì thấp, nhưng khi xảy ra thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.
Do đó, ông Trần Sĩ Chương cho rằng, yếu tố con người và văn hóa an toàn là vấn đề then chốt, quan trọng hơn cả các giải pháp kỹ thuật. Ông cũng chia sẻ kinh nghiệm về việc xây dựng và duy trì văn hóa an toàn, kỷ luật, đào tạo và quản lý nhân sự trong các nhà máy điện hạt nhân tại Mỹ. Cùng với đó, việc hình thành nhà máy điện hạt nhân cũng cần có sự đồng thuận và cam kết xã hội, đây là một trong những thách thức lớn và quan trọng để người dân chấp nhận, ủng hộ dự án. Đồng thời, việc xây dựng một hệ thống quản trị chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả là rất quan trọng để vận hành an toàn các nhà máy điện hạt nhân. Đặc biệt, nhà máy điện hạt nhân có thể mang lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội cho địa phương, như tạo việc làm, thu nhập cao và phát triển cơ sở hạ tầng, tuy nhiên, cần quan tâm đến việc đảm bảo công bằng xã hội và phát triển bền vững.
Song song với các yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn kỹ thuật, khung pháp luật Việt Nam hiện nay đã thiết lập “lá chắn môi trường” nhiều tầng đối với dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận. Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Luật Năng lượng nguyên tử 2025, đây là dự án thuộc nhóm có nguy cơ tác động môi trường cao nhất, buộc phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (TĐMT) ở mức độ chặt chẽ đặc biệt.
Theo TS Lê Anh Vân – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thái Bình Dương, điểm mới đáng chú ý là báo cáo TĐMT không chỉ dừng ở các tác động môi trường thông thường, như nhiệt độ nước làm mát xả ra biển hay ảnh hưởng đến hệ sinh thái ven bờ, mà còn tích hợp đánh giá rủi ro phóng xạ trong mọi kịch bản sự cố. Do đó, chủ đầu tư cần đồng thời phải xây dựng hệ thống quan trắc phóng xạ môi trường tự động, liên tục và kết nối trực tiếp với cơ quan quản lý nhà nước, tạo điều kiện cho chính quyền và người dân địa phương giám sát theo thời gian thực.
Không chỉ kiểm soát trong giai đoạn vận hành, pháp luật còn đặt ra trách nhiệm môi trường trọn vòng đời dự án. Theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, chủ đầu tư phải trích lập quỹ tài chính riêng để phục vụ việc tháo dỡ nhà máy, xử lý chất thải và nhiên liệu đã qua sử dụng khi kết thúc vòng đời công trình, qua đó ngăn chặn nguy cơ chuyển gánh nặng môi trường sang Nhà nước và các thế hệ tương lai.
Thông qua các trao đổi thẳng thắn và đa chiều, tọa đàm đã góp phần làm rõ bức tranh tổng thể về tác động môi trường của nhà máy điện hạt nhân tại ven biển, từ kiểm soát nước làm mát, an toàn bức xạ, quản lý chất thải đến khung pháp lý và trách nhiệm trọn vòng đời dự án. Các ý kiến cũng cho thấy, bên cạnh công nghệ và thể chế, yếu tố con người, văn hóa an toàn và sự minh bạch thông tin đóng vai trò then chốt trong việc tạo dựng niềm tin xã hội.
Việc hình thành “lá chắn môi trường” nhiều tầng, kết hợp giữa tiêu chuẩn quốc tế, pháp luật trong nước và cơ chế giám sát cộng đồng, được xem là nền tảng để các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận được nghiên cứu, chuẩn bị và triển khai một cách an toàn, hiệu quả. Qua đó, không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và mục tiêu giảm phát thải, mà còn hướng tới phát triển bền vững, hài hòa giữa lợi ích kinh tế, môi trường và đời sống người dân địa phương.