Việc tiếp tục hoàn thiện Luật Dầu khí 2022 được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí, đồng thời mở đường cho các ngành năng lượng mới từ biển, góp phần nâng cao năng lực tự chủ năng lượng quốc gia.
Dù thế giới đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển dịch sang năng lượng tái tạo, ngành công nghiệp dầu khí vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Ngành không chỉ cung cấp nguồn năng lượng ổn định phục vụ phát triển kinh tế - xã hội mà còn tạo nguồn lực tài chính để đầu tư cho quá trình chuyển dịch năng lượng trong tương lai. Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam vừa bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, vừa thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050.
Sau nửa thế kỷ phát triển, ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam đã hình thành hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh, từ tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến đến phân phối sản phẩm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy phần lớn các mỏ dầu khí chủ lực như Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Sư Tử Đen… đều đang bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng. Trong khi đó, các phát hiện mới chủ yếu là mỏ nhỏ, cận biên hoặc nằm ở khu vực nước sâu, xa bờ, có điều kiện địa chất phức tạp và đòi hỏi chi phí đầu tư rất lớn. Nếu không có cơ chế đủ hấp dẫn, nhiều dự án sẽ khó đạt hiệu quả kinh tế để đưa vào khai thác.
TS Phan Ngọc Trung, nguyên Thành viên HĐTV Petrovietnam, Trưởng ban Tư vấn Phản biện Hội Dầu khí Việt Nam đánh giá, những điểm mới trong dự thảo Luật Dầu khí 2022 (sửa đổi) liên quan đến mỏ cận biên và hoạt động nâng cao hệ số thu hồi dầu không chỉ tháo gỡ các vướng mắc từ thực tiễn mà còn tạo động lực mới để duy trì sản lượng khai thác dầu khí trong nước.
Điều này phù hợp với định hướng tại Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định bảo đảm an ninh năng lượng là nhiệm vụ chiến lược, trong đó dầu khí tiếp tục giữ vai trò là nguồn cung năng lượng sơ cấp đặc biệt quan trọng đối với ngân sách và cân đối vĩ mô. Hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác (E&P) chính là nền tảng quyết định mức độ tự chủ năng lượng quốc gia.
Ở góc độ chính sách, TS Trần Văn, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách (nay là Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội) cho rằng, việc sửa đổi Luật Dầu khí lần này không chỉ nhằm tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn mà còn phải tạo dựng một khuôn khổ pháp lý đủ linh hoạt để ngành dầu khí thích ứng với những biến động sâu sắc của thị trường năng lượng toàn cầu. Theo ông, dù Luật Dầu khí năm 2022 mới có hiệu lực chưa lâu nhưng bối cảnh phát triển mới đã đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế cho các dự án dầu khí thế hệ mới, đặc biệt là các mỏ nhỏ, mỏ cận biên và các dự án nước sâu, xa bờ có chi phí đầu tư lớn, rủi ro địa chất cao và thời gian thu hồi vốn kéo dài.
Theo TS Trần Văn, nếu vẫn áp dụng các cơ chế tài chính, thuế và phân chia sản phẩm như đối với các mỏ truyền thống thì rất khó thu hút dòng vốn đầu tư mới. Do đó, Luật cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế đặc thù như nâng tỷ lệ thu hồi chi phí, cho phép hạch toán chi phí rủi ro, đơn giản hóa thủ tục đầu tư và đẩy nhanh quá trình phê duyệt kế hoạch phát triển mỏ. Đồng thời, cần chuyển dần tư duy từ “Nhà nước hưởng lợi, doanh nghiệp chịu rủi ro” sang cơ chế “cùng hưởng lợi, cùng chia sẻ rủi ro”, nhất là đối với các dự án có độ rủi ro địa chất cao.
Để khơi thông nguồn lực, TS Phan Ngọc Trung đề xuất các giải pháp đột phá như hoàn thiện cơ chế hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC) theo hướng ưu đãi hơn đối với mỏ nhỏ; thúc đẩy kết nối hạ tầng dùng chung nhằm tối ưu chi phí vận hành (OPEX); thu hút nhà thầu quốc tế có kinh nghiệm tại khu vực địa chất phức tạp và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu (IOR/EOR).
Những điểm này đã được cụ thể hóa trong dự thảo Luật Dầu khí sửa đổi với các ưu đãi về thuế, cơ chế tài chính, tăng mức thu hồi chi phí và kéo dài thời hạn hợp đồng đối với các dự án nâng cao hệ số thu hồi dầu. Đây được xem là bước đi cần thiết để tận thu hiệu quả nguồn tài nguyên còn lại, đồng thời duy trì sản lượng khai thác trong bối cảnh các mỏ lớn đang suy giảm.
Không chỉ tập trung vào thu hút đầu tư, nhiều chuyên gia cho rằng Luật Dầu khí sửa đổi cần tạo điều kiện để Petrovietnam phát huy tốt hơn vai trò doanh nghiệp nòng cốt trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
TS Trần Văn nhận định, một trong những điểm nghẽn hiện nay là sự chồng chéo về thẩm quyền trong quá trình triển khai các dự án dầu khí. Nhiều quyết định kỹ thuật và thương mại quan trọng vẫn phải trải qua nhiều cấp xem xét, làm giảm tính chủ động và có thể bỏ lỡ cơ hội thị trường. Vì vậy, cần tăng cường phân cấp, phân quyền cho Petrovietnam trong việc phê duyệt một số nội dung kỹ thuật đối với các mỏ nhỏ, mỏ cận biên hoặc các dự án có mức độ rủi ro thấp, trong khi cơ quan quản lý nhà nước tập trung vào công tác hậu kiểm và giám sát thực thi.
Đặc biệt, theo ông, cần xây dựng cơ chế bảo vệ rủi ro cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí - lĩnh vực có tỷ lệ thành công thấp nhưng mang ý nghĩa quyết định đối với việc gia tăng trữ lượng. Nếu doanh nghiệp thực hiện đầy đủ quy trình kỹ thuật, quản trị rủi ro theo quy định nhưng kết quả không đạt như kỳ vọng thì các chi phí thăm dò cần được thừa nhận là rủi ro nghề nghiệp và người ra quyết định phải được bảo vệ về mặt pháp lý. Đây là điều kiện quan trọng để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào các khu vực nước sâu, xa bờ có tiềm năng lớn.
TS Trần Văn cũng đề xuất cần có cơ chế tài chính đặc thù cho Petrovietnam, cho phép Tập đoàn giữ lại tỷ lệ lợi nhuận phù hợp để bổ sung quỹ tìm kiếm, thăm dò dầu khí, qua đó nâng cao khả năng tự chủ nguồn vốn và giảm phụ thuộc vào các thủ tục cấp vốn kéo dài. Đồng thời, Tập đoàn cần được trao quyền chủ động hơn trong hoạt động mua bán - sáp nhập, góp vốn hoặc đầu tư ra nước ngoài nhằm đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động nhanh chóng.
Quan điểm này cũng nhận được sự đồng tình từ PGS.TS Lê Quang Duyến, Trưởng khoa Dầu khí và Năng lượng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Ông cho rằng: “Petrovietnam đang đại diện Nhà nước trong tổ chức và điều hành nhiều hoạt động dầu khí trên biển, sở hữu đội ngũ chuyên gia, hệ thống kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn mà ít đơn vị nào có được. Không ai hiểu các công trình ngoài biển tốt hơn Petrovietnam”. Vì vậy, ông đề xuất Nhà nước tăng cường phân cấp, phân quyền cho Petrovietnam trong các dự án năng lượng ngoài khơi, tạo điều kiện để Tập đoàn chủ động hơn về vốn, công nghệ, quyết định đầu tư và triển khai dự án trong phạm vi phù hợp.
Ở khía cạnh khác, theo đánh giá của các chuyên gia, bài toán hiện nay không còn là tìm kiếm các mỏ dầu khí quy mô lớn như giai đoạn trước mà là mở rộng không gian phát triển sang các lĩnh vực năng lượng mới từ nền tảng ngành dầu khí.
PGS.TS Lê Quang Duyến cho rằng Luật Dầu khí sửa đổi cần mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các hoạt động liên quan đến khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), điện gió ngoài khơi, hydrogen, công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS), đồng thời thiết kế các cơ chế khuyến khích đầu tư, chia sẻ rủi ro, thúc đẩy đổi mới công nghệ và đặc biệt là tạo điều kiện bao tiêu sản phẩm đầu ra dài hạn cho các nhà đầu tư.
Đồng quan điểm, TS Trần Văn cho rằng Luật Dầu khí sửa đổi không nên chỉ giới hạn trong hoạt động khai thác dầu khí truyền thống mà cần tạo hành lang pháp lý rõ ràng để doanh nghiệp tận dụng hạ tầng dầu khí hiện hữu phát triển các dự án điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh và thu hồi, lưu trữ carbon. Đây sẽ là hướng đi giúp tối ưu nguồn lực đã đầu tư, đồng thời mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành năng lượng Việt Nam.
TS Bùi Trọng Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu năng lượng bền vững nhận định, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống hạ tầng, dịch vụ kỹ thuật và nguồn nhân lực dầu khí đủ mạnh để phát triển biển thành một “không gian năng lượng tổng hợp”. Không gian đó không chỉ bao gồm dầu khí mà còn mở rộng sang điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, amoniac xanh, lưu trữ carbon và nhiều chuỗi giá trị công nghiệp xanh khác.
Theo các chuyên gia, nếu Luật Dầu khí được sửa đổi theo hướng mở rộng không gian pháp lý, tăng tính linh hoạt của cơ chế đầu tư và trao quyền chủ động lớn hơn cho Petrovietnam, Việt Nam sẽ có thêm công cụ để vừa khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí còn lại, vừa tạo nền tảng cho các ngành năng lượng mới phát triển. Đây sẽ là bước đi chiến lược nhằm củng cố an ninh năng lượng quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh và tận dụng hiệu quả các cơ hội từ quá trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu.
Theo tin từ Petrovietnam